U hạt Wegener là rối loạn hiếm gặp gây viêm các mạch máu, bởi vậy giảm thiểu lưu lượng máu đến các bộ phận khác nhau. Tổn thương u hạt hoại tử của đường hô hấp trên, viêm đường hô hấp dưới và viêm cầu thận. Nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể nhanh chóng bị tử vong do suy thận.
Bệnh dễ nhầm lẫn...
Khi mắc bệnh, rất nhiều bệnh nhân có biểu hiện ở đường hô hấp trên hoặc hô hấp dưới hay cả hai, các triệu chứng có thể là sổ mũi, viêm xoang, viêm tai giữa, viêm xương chũm, phì đại lợi hoặc tiếng thở rít do hẹp dưới thanh môn... Vì vậy, tại giai đoạn đầu, người bệnh thường lầm tưởng mắc bệnh đường hô hấp. Khi phát hiện được bệnh thường tại giai đoạn muộn, không giải quyết được điều trị. Xét nghiệm máu cho thấy rất nhiều bệnh nhân có thiếu máu nhẹ, tăng nhẹ bạch cầu và nâng cao tốc độ máu lắng.
Khi có biểu hiện bất thường, cần đến trung tâm y tế để được khám và điều trị. T.Anh
Nguyên nhân do đâu?
Theo các nghiên cứu thì nguyên do của u hạt Wegener chưa rõ, nhưng bệnh thường xuất hiện gây viêm ban đầu, có sự bất thường từ hệ thống miễn dịch. Sự kết hợp này có thể dẫn đến viêm, hẹp mạch máu và các khối mô viêm (u hạt). Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy bệnh thường diễn ra tại độ tuổi trung niên với khởi phát trung bình tại tuổi 40. Người da trắng có rất nhiều khả năng phát triển u hạt Wegener hơn so với người da đen.
Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm?
Khi mắc bệnh, ảnh hưởng trước tiên đối với người bệnh là hệ hô hấp và ảnh hưởng tới các cơ quan khác, bao gồm cả da, mắt, tai, thận tủy sống và tim. Các biến chứng có thể bao gồm:
Giảm thính giác do viêm mô hạt trong tai giữa, ví dụ không được phát hiện điều trị thì quy trình giảm thính giác dẫn đến mất thính giác. Tiếp theo là đau, có thể phát triển và có thể dẫn tới sẹo. Nghiêm trọng hơn, lúc tình trạng bệnh nhân ho, khó thở, tức ngực... có thể ảnh hưởng tới động mạch của tim dẫn tới đau ngực hoặc đau tim.
Ở giai đoạn muộn, lúc u hạt Wegener tiến triển có khả năng ảnh hưởng tới thận, có thể dẫn đến viêm cầu thận gây cản trở khả năng loại bỏ chất thải và nước thừa ra khỏi cơ thể, dẫn tới tích tụ các chất thải trong máu (urê huyết), có thể dẫn tới suy thận nhanh chóng và gây tử vong.
Chẩn đoán thế nào?
Do các triệu chứng ban đầu dễ nhầm lẫn, nếu nghi ngờ hoặc không đáp ứng với các thuốc điều trị thì bác sĩ có thể đề nghị 1 số xét nghiệm, bao gồm:
Xét nghiệm máu thấy thiếu máu, phổ biến ở những người bị bệnh này. Bên cạnh đó, xét nghiệm máu có thể phát hiện các protein nhất định (tự kháng thể) trong máu được gọi là bạch cầu trung tính tự kháng thể chống tế bào (ANCA). Và cũng có thể đo tốc độ lắng hồng cầu - thường được gọi là tỷ lệ như sed. Tỷ lệ sed cũng được đo trong khi điều trị để kiểm tra tiến triển của bệnh.
Thông thường, khi nghi ngờ, các bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân xét nhiệm nước tiểu để đánh mức chi phí chức năng thận nhằm xác định xem mức độ ảnh hưởng đến thận. Tiếp theo là chụp Xquang; Sinh thiết mô bị ảnh hưởng - đây là cách duy nhất để xác định chẩn đoán u hạt Wegener để loại bỏ các tế bào từ đường mũi, đường hô hấp hoặc phổi.
Bệnh có chữa khỏi?
Tùy theo mức độ phát hiện của bệnh sớm hay muộn, nếu chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp, u hạt Wegener có thể phục hồi trong vòng 1 vài tháng. Tuy nhiên, nếu như phát hiện muộn ở tình trạng suy thận thì nguy cơ tử vong cao. Vì vậy, tùy từng giai đoạn của bệnh mà có mức độ điều trị khác nhau như sử dụng thuốc kháng sinh, cầm máu, chống viêm hô hấp. Điều trị sớm khi tổn thương mới xuất hiện tại các xoang, phổi, mắt... sẽ góp phần ngăn chặn suy thận. Tuy nhiên, các thuốc điều trị có không ít tác dụng phụ nên người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ các chỉ định của bác sĩ. Cần lưu ý, nếu bệnh nhân bị viêm đường hô hấp, điều trị nội khoa không đáp ứng hoặc kèm ho ra máu, chảy máu mũi, sung huyết củng mạc, lồi mắt một bên phải nghĩ tới bệnh u thận và cần phối hợp các chuyên khoa cùng điều trị.
Khi tại giai đoạn muộn suy thận có thể xem xét ghép thận để phục hồi chức năng thận bình thường. Việc cấy ghép thành công phụ thuộc vào việc kiếm tìm một cơ quan là giảm thiểu các nguy cơ cơ thể sẽ từ chối nó và sau một kế hoạch điều trị sẽ cho phép cơ thể phải chấp nhận cơ quan mới. Trường hợp đã xuất hiện các tổn thương thận (protein niệu hoặc tiểu ra máu...) thì tiến triển của bệnh rất nhanh nhất dẫn đến suy thận và tử vong (trong vòng vài tuần). Việc điều trị cần chạy thận nhân tạo.
Vì bệnh có biểu hiện khởi đầu là viêm đường hô hấp nên để phòng bệnh, cách tốt nhất là bộ phận bệnh đường hô hấp, khi mắc các viêm đường hô hấp, cần điều trị sớm và triệt để không để bệnh tiến triển về phổi hay biến chứng viêm tai giữa.
Khi có những biểu hiện bất thường, cần đến cửa hàng y tế để được hỗ trợ tư vấn khám và điều trị thích hợp.
BS. Nguyễn Anh Tuấn
0 comments:
Post a Comment